Thursday, February 19, 2015

Nghe đá vào xuân

Những viễn tưởng về vùng đá, không viển vông, nhưng thực sự cũng vô cùng khó khăn, khó thực hiện được trong cái rét xuống tới năm sáu độ này.

Vẫn hấp dẫn, vẫn có một sức hút đến kỳ diệu, mà nơi ấy chỉ có đá, đá chạm vào mây, vào đỉnh trời. Mà nơi ấy chỉ có những con người lùn tịt, mặc bộ quần áo Mông đen nhẻm hay bộ áo váy Mông bằng lanh xanh chàm, riềm đỏ bay lòa xòa; với cây khèn ngất ngưởng say trên lưng ngựa, hay túm đuôi ngựa mà xuống chợ. Cạnh bờ rào quanh nhà được xếp đá cao gần ngút đầu người là mấy cây đào cằn cỗi, buông cành cũng cằn cỗi thả những sắc hồng đào mùa hoa, mùa quả, cùng với mấy mái nhà ngói âm dương, có lẽ chúng có cả trăm năm tuổi, già cỗi như lòng đá. May chăng chỉ có dăm bảy thửa ruộng rắc tam giác mạch là trổ hoa đẹp đến mê hồn hàng năm, để thêm bớt nắm lương thực vào mùa giáp hạt…

mua xuan


Vẫn trên cung đường ấy, vậy mà vẫn say, say đến ngả nghiêng đất trời, say đến quên cả tuổi tác. Trong chuyến đi lên miền đá lần này có ông đầu bạc phơ, cũng có ông đầu đã muối tiêu mà người ta gọi là “hai thứ tóc”. Vậy mà vẫn ham, vẫn muốn một lần trong đời đến với Cao nguyên, đến với Công viên địa chất toàn cầu. Vẫn khư khư cái máy ảnh trong tay, cây bút mà ghi ghi, chép chép gì đó vào quyển sổ hay miếng giấy. Rồi vẫn bấm, vẫn chụp, vẫn tiếng máy nổ liên thanh vẫn giòn tan, cùng cây bút ngoáy lia lịa không thôi. Mùa xuân, một bức ảnh xuân, một bài thơ xuân, phóng sự xuân nhưng được chụp, được ghi vào dịp cuối năm mà tươi rói.

Chẳng năm nào sai hẹn, tôi vẫn đến với vùng cao, vẫn lên Cao nguyên đá, đến Công viên địa chất toàn cầu, để được ngắm đá, ngắm trời, ngắm mây, ngắm gió. Ngắm cái khoảng khắc họ không thích mà mình thích, mình vừa ý. Để được đón cái rét đến ghê người, được nhìn dòng sông Nho Quế cạn khô đến trơ dòng, lổm nhổn đầy đá cuội. Rồi cũng được xuống chợ phiên, cùng rỉnh rang với cô hàng bán bánh ngô, bánh rán, hay ngồi nướng bánh sắn trắng tinh nơi góc phố. Để được ăn những bát mèn mén đầy tràn bột ngô vàng mà nấc lên, nấc xuống, uống một bát nước canh tẩu chúa đầy mùi đậu phụ còn tươi nguyên. Cũng được nhìn, được ngắm những chàng trai vác khèn đi xe máy, hay những cô sơn cước cắp vào nách con gà vượt đường rừng xuống cõi phồn hoa mà con gà trống nhà vẫn gáy te te…

Nhận giấy báo của hội Văn học- Nghệ thuật Hà Giang, chúng tôi chuẩn bị lên đường. Hôm nay đoàn được đi chiếc xe khách khổng lồ của Hợp tác xã Vận tải Cầu Mè hẳn hoi nhé. Không phải đi chiếc xe viên đạn cũ kỹ như mọi lần đâu. Mà nói là như vậy cho oai, chứ hội Văn học- Nghệ thuật tỉnh có nhiều tiền đâu, cứ thuê được chiếc xe nào thì đi xe ấy thôi, miễn là nó “rẻ” và an toàn là được, có sao đâu.



Đoàn chúng tôi chỉ có bảy người thì có tới năm sáu người đến “tuổi làm thơ” hay “ăn lương ngồi rồi, ngắm cảnh” mà. Ấy vậy nhưng ông nào cũng nhăm nhăm cái túi máy ảnh trong tay, ông nào cũng hy vọng có được một hay vài bức ảnh tốt nhất cho mùa xuân này. Những viễn tưởng về vùng đá, không viển vông, nhưng thực sự cũng vô cùng khó khăn, khó thực hiện được trong cái rét xuống tới năm sáu độ này. Xe vượt dốc Pắc Xum, qua cái nơi có “hùm làng Đán” để được vượt dốc Cổng Trời Quản Bạ, rồi trườn xuống bờ sông Tráng Kìm. Ai cũng cảm nhận được cái rét giữa mùa Đông, một cái rét đủ cho ta thẩm thấu một vùng đá, một vùng người ở “Phía bên kia cổng trời” bao gian nan, thách thức đang chờ đợi.

Thế mà, tiếng cười cứ giòn tan khi vào nghỉ ăn cơm trưa ở thị trấn Yên Minh, như những ngẫu nhiên nó “phải thế”. Anh Vương Văn Phát, nguyên là Trưởng phân xã Việt Nam tại Hà Giang bảo chúng tôi: “Chẳng biết có nên cơm cháo gì không mà từ sáng đến giờ đã hai bữa tắp lự rồi”. Lại cười, cười đến ngả nghiêng, mà ngẫm nghĩ cái đận: “Ăn đã vậy, múa gậy làm sao”. Sau bữa trưa hôm ấy, con xe “hai mươi bốn chỗ” lại bon bon vượt lên dốc Thẩm Mã, dốc Chín Khoanh. Nơi ấy tôi đã đi và đến nhiều lần, cả bằng ô tô, cả bằng xe máy, nhưng nhìn con dốc vòng đi, cua lại đến ghê người. Những vòng gấp khúc của nó như sợi chỉ ai vứt lại ngang đồi làm thành cái vệt nắng ngang dọc trên sườn đá núi.

Tôi giơ máy lên bấm, tại sao lại không “bấm” cơ chứ, tiếng chiếc Nicon 300S nổ giòn. Cái tiếng “nổ” khởi đầu cho một chuyến đi, để anh Phát khỏi bảo bọn tôi là “ăn tàn, phá hại”. Xe bon bon chạy trên đường “cao tốc Phố Cáo” một cái xóm đã “thành danh” mà vài lần trong năm tôi vẫn đi qua. Nhưng lần này thì không, chúng tôi xuống xe, quyết tìm ra cho được một cái gì cho xuân, cho tết và để lại cho mình chứ.

Khi chúng tôi lên xe về thị trấn Đồng Văn thì ai cũng hỉ hả với những tác phẩm của mình. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Dương Thanh Hiền thì hả hê với những bức ảnh chụp các em bé vùng cao giữa mùa hoa cải. Anh Lê Được thì lại hí húi với cái thẻ máy ảnh “không chịu” nhận được nhiều hình ảnh của mình. Còn Thân Văn Hải thì cứ chăm chú nhìn vào màn hình máy mà xem, mà ngắm nghía và suy luận. Nhưng có lẽ vừa lòng nhất vẫn là Minh Lý. Cô bảo cứ đi, cứ chụp, cứ bấm mà chẳng để cho ai, chỉ để cho riêng mình, để cho mình thích, mình ưng ý là được. Có lẽ người kiệm lời nhất là Thế Cự, anh chẳng nói gì, chỉ cười tủm tỉm và nói chuyện mãi xa xưa về Hà Nội, về một vùng đất cổ Thăng Long. Thuở Thăng Long xưa, thuở Thăng Long nay với Hàng Bột, Hàng Gai, Hàng Đồng, Hàng Điếu… Để đến nỗi Vương Văn Phát phải phong anh là “Nhà Hà Nội học”.

Tranh thủ lúc chờ cơm tối, tôi với Nghệ sĩ Thế Cự đi dọc cái phố cổ Đồng Văn, một cái phố cổ mà tôi đã đi thăm mỗi năm hàng chục lần mà chưa chán. Cái phố cổ hoen hoen năm bảy chục nóc nhà, nhưng nhà cổ thực sự “tường trình đất, lợp mái ngói âm dương” bây giờ chỉ còn chừng vài ba chục cái. Cái nào xem ra cũng hom hem, nó già quá rồi, quá cái tuổi chịu đựng của mình với thời gian. Cái nào cũng long bánh chè, mỏi gối, còng tay, khèo chân… hay nói ngọng, rụng răng, bạc tóc… làm sao mà chịu đựng cùng cái “nóng lạnh”, giở mùa, giở trời ở nơi phố đá.

Ông Lường Huy Ngọ, chủ nhà cổ, ở phố cổ Đồng Văn đang được Nhà nước trùng tu kéo chúng tôi lại. Ông bảo: “Chú là nhà báo à, vào nhà tôi chơi đã, vui quá chú ạ, Nhà nước làm chứ mình thì lấy gì ra để làm, để được trùng tu cơ chứ. May mà nhà tôi được trùng tu đợt đầu đấy, chứ không thì cái nhà chính nó xập xệ quá rồi. Được cái khu sân bằng đá phía sau nhà vẫn còn, khu nhà ngang thì vẫn vững chãi ra phết…”.

Uống chén nước nóng ông mời, nhìn công trình của gia đình ông Ngọ đang ngổn ngang gạch đá, gỗ ngói, tôi ước tính Nhà nước phải đầu tư vào ngôi nhà này không dưới hai tỷ đồng. Biết bao nhiêu là chủng loại, mà cái loại nào cũng quan trọng. Nhưng chờ được đầu tư, được trùng tu thì phải được phân loại, giám định từng loại vật liệu, thẩm định công trình và thành lập phương án. Rồi bắt đầu thuê thợ “chính hiệu” để trình lại tường, tìm mua cây dằn đúng như loại gỗ trước đây đã làm. Rồi thuê thợ xẻ cầu phong, ni tô, làm cái mái lá sòi, lá hương sen, ép ván sàn… Ngôi nhà hai tầng, hai gian rộng, một gian hẹp, đúng theo nhà truyền thống cách đây cả trăm năm.

Rồi cũng nghe ông kể, đáng lý được đầu tư, trùng tư lâu rồi, có lẽ sáu bảy năm rồi chứ chả chơi. Nhưng qua hàng “chục bước” dùng dằng mãi, người dân phố cổ đã muốn trả lại danh hiệu “phố cổ” cho Nhà nước để xây nhà mới. Nhưng cuối cùng thì qua sáu bảy năm sau cũng được làm. Cũng bởi thế mà cái “phố cổ” bây giờ nó mới “nhôm nham” thế này, nhà kiểu cũ, kiểu mới cứ tha hồ mà chen nhau. Chứ không thì… may mà nó chưa hỏng hoàn toàn, “cái phổ cổ” nó chưa đến nỗi xuống cấp không thể trùng tu được nữa…

Nghe ông nói mà tôi tiếc, tiếc cho “cái chợ cổ Đồng Văn” dễ có đến hàng trăm năm rồi, được xây bằng đá, lợp ngói âm dương hẳn hoi. Thế mà chiếc chợ cổ “bị bức tử”, mới đau chứ. Chẳng biết ai làm, ai quyết định, nhưng bây giờ Đồng Văn “dời chợ” đi nơi khác, để cái chợ cổ nằm “tênh hênh” cho cá nhân thuê, bán quán cà phê tân thời, với những dòng chữ mới tinh loằng ngoằng cùng những “cô nàng” tiếp viên ưỡn ẹo hết đi ra lại đi vào. Họ còn tiến hành “bắt chước” cho xây mới hai cầu chợ nữa chứ… Đau, đau thật, chợ, họp chợ, con người đi chợ, xuống chợ… là cái “linh hồn” của chợ, nhất là chợ trên Cao nguyên đá này. Chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là nơi giao duyên, gặp gỡ, là nơi giao thoa văn hóa vùng miền… Còn bây giờ thì… còn đâu là “chợ cổ” mà thành “cổ chợ”.

Tối ấy, đoàn chúng tôi ngủ lại ở trên Công viên địa chất toàn cầu, nơi phố cổ Đồng Văn. Ngôi nhà cổ, rất cổ xưa của Hoàng Quốc Thân, nghe đâu đã hơn một trăm năm tuổi với tường trình, mái ngói âm dương. Nói là ngủ ở nhà cổ, nhưng chúng tôi chỉ được ngủ ở hai gian bếp thôi, còn hai gian nhà trên đã được Hoàng Quốc Thân làm nơi thờ tự bố mẹ, gia tiên nên chúng tôi không được phép “lai vãng” tới.

Đêm xuống, cái rét hơn sáu độ C, hai chăn bông năm cân chồng lên nhau mà vẫn rét, Hoàng Quốc Thân phải đun nước nóng cho anh em tắm giặt. Thật khó nói với tấm lòng con người, tấm lòng người bạn nơi “phố cổ”. Dẫu sao Hoàng Quốc Thân cũng là một nghệ sĩ, một tay máy thiện xạ. Anh vừa đạt giải “Vàng” ở cuộc triển làm khu vực Lạng Sơn đấy.

Tối xuống, bảy anh em quây quần bên nồi lẩu gà “chạy núi đá” Đồng Văn, mới ngon ngọt làm sao. Câu chuyện về Phố Cáo, về Thẩm Mã, về dốc Chín Khoanh lại bung ra. Tôi thì vẫn mẩn mê với cái duyên “phố cổ, chợ cổ” mà khi ăn cơm xong không sao ngủ được. Nằm đón cái rét cứ xuống thấp dần, đến tê người, nhưng tôi vẫn mơ ngày mai, sáng mai Đồng Văn có tuyết. Rồi cũng nằm nghe anh Lê Được mơ ú ớ, anh còn nói ra mồm, tiếc rẻ cái thẻ không chứa được bao nhiêu ảnh… Thật là… thế mới là đi sáng tác, đi săn ảnh chứ…

Sáng ra, chúng tôi lên xe phóng lên đỉnh Mã Pí Lèng. Lên cái sống mũi ngựa mà hồi hộp, mà rung cảm, mà thẩm thấu vẻ đẹp quê hương mình, rồi nhìn xuống dòng sông Nho Quế sâu thăm thẳm. Bà con trên xã Pải Lủng đang làm đường về bản, trong chiến dịch “Xây dựng nông thôn mới”. Những công nhân giao thông thì đang bắc thang lên taluy dương mà phát đường, dọn cỏ, dọn rãnh thoát nước. Ngắm quê hương đất nước, ngắm cuộc sống thanh bình trên con đường mang tên Hạnh Phúc mới thấy hạnh phúc làm sao. Thôi thì những tay máy thi nhau nổ liên thanh. Thấy bạn “nổ” thì tôi cũng nổ, biết rằng chẳng để làm gì, chỉ để mình xem cho thỏa thích chính mình thôi. Đúng như câu Minh Lý nói, những hình ảnh ghi lại chỉ để cho mình, dù rằng trong cái u tịch của Mã Pí Lèng còn mờ sương giá ấy.

Tôi cứ thắc mắc mãi không thôi, sao Pải Lủng thuộc huyện Mèo Vạc, mà Mã Pí Lèng nằm trong Pải Lủng lại thuộc huyện Đồng Văn quản lý. Liệu Mã Pí Lèng có như ngày xưa ở Hang Én, thuộc xã Vần Chải huyện Đồng Văn hay không nhỉ? Một thời Đồng Văn và Yên Minh, hai huyện tranh nhau, để rồi “én đi đằng én”, còn độc một cái hang không, đến giờ đã mấy chục năm chẳng ai vào…

Chị Nông Thị Xúa, một phụ nữ đang địu bột đá lên làm đường ở Pải Lủng bảo tôi: “Chính phủ, Bác Hồ cho Pải Lủng nhiều quá. Con đường Hạnh Phúc làm cho dân tộc Mông ở đây cứ sướng dần lên. Nào Chính phủ cho trường, cho nhà ủy ban, cho trạm y tế, cho hồ treo mang cái nước về, rồi bây giờ lại cho đường. Những con đường bê tông này là của Chính phủ cho đấy, người Mông ở Pải Lủng này chỉ mất cái công lao động thôi…”. Rồi chị cười, cả đoàn đồng bào địu bột đá lên núi làm đường cùng cười, tôi cũng cười, cười cho hạnh phúc, cho đời sống nhân dân vùng đá ngày một nâng cao.

Chúng tôi lại lên xe sang Mèo Vạc, bên ấy anh Nguyên Bình, hội viên của hội  đang chờ. Khi đến thị trấn Mèo Vạc, nhảy xuống xe, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là những cô gái lô lô, mặc quần áo truyền thống đẹp như mơ. Ôi những bộ quần áo truyền thống của người lô lô tôi có mơ cũng không thấy đẹp như thế bao giờ. Cô Nguyễn Thị Nghiêu, Phó Chủ tịch thị trấn Mèo Vạc cười đến duyên: “Em sẽ đưa các bác đến nhà cổ Chúng Pả, đến với đá tai mèo vùng Mèo Vạc, để các bác biết thế nào là vùng đất, vùng người nơi tận cùng đất nước này…”

Những chiếc máy ảnh trong tay chúng tôi cứ “thả phanh” mà “liên thanh” nhả ra hình ảnh. Thôi thì hơn cả “liên thanh”, đủ các “chế độ” và “độ mở, độ đóng”. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Thạch Công Thịnh cười rung cả “rốn”: “Thế này mới là chụp chứ, khoảnh khắc mà, đúng là “sống trên đá, chết vùi trong đá”. Nhiếp ảnh, đâu có hẹn lần sau…

Còn nghệ sĩ nhiếp ảnh Dương Thanh Hiền thì cứ thế, chẳng cần giữ ý, bò lê, bò toài ra mà chụp. Tất cả đều tranh thủ “chớp” lấy những khoảnh khắc hiếm hoi này… một khoảnh khắc mà theo tôi chỉ có một trên đời.

Như thế đấy, không “hên” sao được, gặp đồng bào mình trên đỉnh đá Pải Lủng mãi Mã Pí Lèng, đỉnh trời, đỉnh núi. Gặp những em gái lô lô phơi phới trên miền hoa, miền đá, rồi gặp em trai “chăn bò trên lưng” với địu cỏ ngất ngưởng trên vai và gặp em gái nhỏ, mái tóc vàng hoe, xơ ra khi chia nhau từng đọt măng sậy dưới nắng chiều… Và nhất là cái nắng, cái nắng hiếm hoi, vàng như mật ong, một màu hổ phách, nghiêng đổ của vùng sơn cước, của đỉnh đá, đỉnh trời.

Thuận lợi là thế, bao nhiêu điều “gom lại” cho một chuyến đi cuối năm, mà lại làm nên mùa xuân về xứ sở hoa đào, về miền biên ải. Phiên “chợ bò” Mèo Vạc trong thời kỳ mở cửa nền kinh tế đất nước mới thú vị làm sao? Tiếng bê tìm mẹ, tiếng bò mẹ gọi con. Rồi tiếng gà kêu cục tác, tiếng lợn đàn buộc dây từng đàn xuống chợ đang ủn ỉn trong cái hơi sương mà ấm áp tình người, tình núi. Trên sân vận động trung tâm huyện, hội “Chọi chim họa mi” của toàn tỉnh bắt đầu vào “Sới”. Tiếng khèn hội vang xa, những cánh chim họa mi, những ông chủ chim đang phơi lồng vải đỏ dọc đường huyện, dưới chân tượng đài Bác Hồ mới ám áp làm sao. Mùa đông, mùa băng giá, mùa có tuyết bay… chẳng còn có nghĩa lý gì, chỉ còn những nụ đào lập lòe đâu đó…

Những chuyến đi với một cung đường, một sự khắc họa cuối năm, mà mang âm hưởng đầu năm. Những bức ảnh, những khoảng khắc đất trời vùng đá đã ghi vào kho tàng suy nghĩ của mỗi người. Mỗi bức ảnh là một cái gì đấy rất riêng, rất thiêng liêng và thiêng liêng hơn cả, nơi đời đá, đời người trên Công viên địa chất toàn cầu. Ai trong đoàn chúng tôi cũng tha hồ mà xuýt xoa: “Đẹp quá, Tổ quốc mình đẹp quá…”. Nơi ấy đồng bào tôi đã gắn bó bao đời với đá, với đỉnh trời, với Mã Pí Lèng và dòng sông Nho Quế, một lát cắt, một khoảng khắc, một không gian nơi tột cùng Tổ quốc.

 Nguyễn Quang