Tuesday, July 9, 2013

Về cù lao


1. Cù lao Chàm được coi là một hòn đảo xanh huyền thoại.

Đây là một cụm đảo thuộc xã đảo Tân Hiệp, TP Hội An, tỉnh Quảng Nam. Sau khi ghé lại khu di tích Mỹ Sơn trầm mặc, trở về thăm phố Hội với sông Hoài, sông Phố, cầu Chùa…, chúng tôi ra Cửa Đại. Vốn dĩ hoang vắng, nay Cửa Đại đã trở nên giàu có với khá nhiều Resort sang trọng. Lênh đênh 15 cây số đường biển, chúng tôi tới cù lao Chàm.

Cù lao có 8 đảo:  Hòn Dài, Hòn Lao, Hòn Khô con, Hòn Khô mẹ, Hòn Mồ, Hòn Ông,  Hòn Lá, Hòn Tai, với tổng diện tích trên 15 km2 và có tới 90% là rừng. Thiên đường xanh này có trên 3000 người dân sinh sống, tập trung ở Hòn Lao, ngày ngày cần mẫn đánh bắt hải sản, và bây giờ nhiều ngư dân đã kiêm thêm nghề dịch vụ du lịch.

Bãi biển cù lao Chàm
Cù lao Chàm gắn liền với thương cảng Hội An một thời lừng lẫy. Nó được coi như bến đỗ đầu tiên khi các thuyền buôn nước ngoài vào miền Trung Việt Nam. Nền văn hóa Sa Huỳnh vẫn bàng bạc trên mảnh đất này.

Đến cù lao Chàm không thể không đến giếng cổ, người dân nơi đây gọi là "Giếng cổ Chăm”, hay còn gọi là giếng cổ xóm Cấm. Theo giới chuyên môn, giếng cổ này có niên đại trên 200 năm, trước kia là công trình quan trọng cung cấp nước ngọt cho dân cư trên đảo. Người dân ở đây cho biết, giếng này không bao giờ khô cạn, cho dù trong những thời điểm khô hạn nhất.
Ông Nguyễn Văn Thắng, một công dân chính hiệu cù lao Chàm cho biết, nước giếng Cấm còn có tác dụng… giải say. Ông Thắng nói rằng, trước đó người cù lao cũng không biết giếng của mình "thiêng” đến thế, mà chính du khách nói ra mới biết. Chẳng là nhiều người trong đất liền ra bị say sóng, cứ lấy nước giếng cổ mà uống, thế là hết say.

Mực một nắng nổi tiếng của cù lao Chàm

Người cù lao Chàm là những ngư phủ dày dạn sóng gió, rất thiện nghệ với nghề câu biển. Nhưng nói như vậy là chưa đủ, bà con còn làm được đủ nghề để tự phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cuộc sống, cũng bởi là do ở cách đất liền thì phải "tự cung tự cấp”, nhất là trong những ngày biển động tàu không ra đảo được.

Ít ai biết rằng người cù lao Chàm có một nghề rất tự hào, đó là đan võng, mà lại là võng ngô đồng.

Ông Thắng kể, không ai ở cù lao Chàm biết được nghề se sợi cây ngô đồng và đan võng có tự bao giờ, nhưng rất nhiều người trên cù lao biết làm nghề này, nhất là phụ nữ. Làm được chiếc võng ngô đồng là rất công phu, tốn chừng hai tháng. Ngô đồng là một loại cây thân gỗ mọc tự nhiên trên cù lao. Người ta chặt cành ngô đồng thành từng khúc cỡ 40cm, đập dập, lấy vỏ ngâm nước suối trong vòng mười ngày, để được loại xơ màu trắng, từ đó tước nhỏ bện võng. Không ở đâu lại bán võng đắt như ở đây, mỗi cái không dưới 2 triệu đồng, nhưng khách du lịch vẫn rất thích, vì xét cho cùng có mấy ai sở hữu được một chiếc võng ngô đồng đâu.

Buổi trưa hôm đó nắng gắt, đu đưa trên chiếc võng ngô đồng dưới tán cây xanh mát, nhìn ra xa xa sóng nước trùng khơi. Mặt biển như một tấm gương xanh ngắt.

2. Lần khác, chúng tôi tới cù lao Mây. Cù lao là một vùng đất nổi rộng tới 4000 hecta, chạy dài giữa dòng sông Hậu thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Trên cù lao Mây có 2 xã là Lục Sĩ Thành ở phía nam và Phú Thành ở phía bắc.

Người dân nơi đây kể rằng, khoảng giữa thế kỉ 18, Nguyễn Ánh lánh nạn Tây Sơn, bôn tẩu xuôi theo dòng sông Hậu. Vị vua lận đận này đã bắt gặp một giồng đất xanh tốt trong lòng sông, ông đã cho thuyền ghé lại. Từ đó nơi đây trở thành điểm trú chân an toàn mà ngĩa quân Tây Sơn rất khó lòng phát hiện và cũng khó công kích. Lúc bấy giờ, Nguyễn Ánh đặt tên cho cù lao này là Vân Châu, vì nhìn từ xa nó giống như một áng mây. "Vân” có nghĩa là "mây”; "châu” là cù lao, từ đó mới có tên là cù lao Mây.

Nồi gốm và bát bồng tùy táng trong di tích cù lao Rùa

Đầu thế kỷ 20, để thuận tiện cho việc đi lại, người Pháp cho đào kênh cắt ngang cù lao Mây, chia hai ấp An Thạnh và Long Hưng thành 2 phần. Tới năm 1994, cù lao Mây được chia thành hai xã Lục Sĩ Thành và Phú Thành.

Tới cù lao Mây hôm nay, người ta khó có cảm giác cách bức với làng mạc trên bờ sông, bởi nó là một vùng đất giàu phù sa, lại tấp vào bờ một cách dễ dàng. Trên cù lao, có không ít công trình kiến trúc trên trăm năm tuổi. Ví dụ như đình Hậu Thạnh được vua Tự Đức sắc phong "Thành Hoàng bổn cảnh” vào năm 1852. Mái đình lợp ngói vảy cá, khu đình chia làm 3 phần: một là để thờ Thành hoàng, hai là để đàn ca, diễn xướng tuồng tích khi có lễ hội; và 3 là phần xã tắc thờ Thần Nông. Đền được bao phủ và trở nên linh thiêng khi xung quanh được bao bọc bởi những cây dầu, cây sao, cây long não cổ thụ nhưng vẫn xanh um, cao vút.

Từ cù lao Mây, chúng tôi được một người dân Lục Sĩ Thành đưa đi chơi chợ nổi Trà Ôn. Chợ trên sông này tấp nập người mua kẻ bán với rất nhiều mặt hàng nông phẩm cùng những tiện nghi sinh hoạt hàng ngày. Chợ nổi Trà Ôn không có phiên mà ngày nào cũng nhóm họp, nó được tạo thành bởi trên 30 chiếc thuyền buôn. Nhưng số thuyền tấp vào đây nhiều hơn rất nhiều, đó là thuyền của những người đến mua hàng, đi chơi chợ.  Cũng giống như những chợ nổi miệt vườn Tây Nam bộ, chợ nổi Trà Ôn cũng có những quán nhậu lai rai ngay trên thuyền, tạo nên một phong vị rất đặc biệt. Chủ thuyền có thể phục vụ khách nhậu món cá nướng bắt được ngay dưới lòng thuyền.

Nhưng nói gì thì nói, ở đây món bánh tráng vẫn là nổi tiếng nhất. Bánh tráng cù lao Mây chính hiệu phải là ba loại: bánh tráng nem, bánh tráng nhúng và bánh tráng ngọt. Cũng giống như bánh tráng ở các nơi, nhưng bánh tráng cù lao Mây dai hơn, gia vị cũng đậm đà hơn.

Chúng tôi ăn cá nướng quấn với bánh tráng nhúng, uống rượu đế trong vắt. Hương vị sông nước miền Tây thật là đặc sắc.

Khai quật di tích cù lao Rùa tháng 5-2003

3. Ngược về hướng TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi đến cù lao Phố. Cù lao Phố nằm trên sông Đồng Nai, nay là xã Hiệp Hòa thuộc TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Cù lao được hình thành bởi sự chia dòng của con sông Đồng Nai. Khi nó chảy tới một khúc quanh thì tự chia ra làm hai nhánh ôm lấy một dải đất sa bồi, rộng tới hơn 600 hecta.

Lịch sử ghi nhận, người có công lao rất lớn xây dựng cù lao Phố là ông Trần Thượng Xuyên, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần. Năm 1679, Trần Thượng Xuyên chính thức lập nghiệp ở đây. Khi đó, cù lao này là nơi rừng rú, một bãi sa bồi hoang sơ. Cù lao Phố đặc biệt ở chỗ, nó nằm trên một đoạn sông nước sâu, thuyền dễ ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, và cũng dễ dàng xuôi nam ra biển Cần Giờ.

Chính vì thế, theo thời gian, cù lao Phố đã mạnh lên nhanh chóng, trở thành một thương cảng, một trung tâm thương mại và giao dịch của cả vùng Gia Định và Nam bộ. Khách thương từ Campuchia cũng theo con nước mà đến buôn bán ở cù lao Phố. Người nơi khác kéo đến sinh cơ lập nghiệp ở đây cũng ngày một đông. Họ mang theo nhiều nghề thủ công như dệt chiếu, tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường, làm bột, đồ gỗ gia dụng, chạm khắc gỗ, đóng thuyền... làm cho cù lao vốn cách bức trở thành một làng nghề đa dạng, mà sản phẩm của nó rất chất lượng.

Bánh tráng, đặc sản cù lao Mây
Trịnh Hoài Đức ghi lại rằng, các thuyền ngoại quốc tới cù lao Phố bỏ neo, mướn nhà ở, rồi kê khai số hàng trong chuyến ấy cho các hiệu buôn trên đất liền biết. Các hiệu buôn này định giá hàng, rồi bao mua tất cả, không để một món hàng nào ứ đọng. Mua bán ở cù lao Phố cả khách lẫn chủ đều được tiện lợi. "Khách chỉ việc đàn hát vui chơi, đã có nước ngọt đầy đủ, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi”.

Còn "Nhà Nam bộ học” Sơn Nam viết: Vùng Cù lao Phố, nòng cốt của Biên Hòa. Đây là vị trí xứng danh ải địa đầu, với đường bộ lên Cao Miên và đường thủy ăn xuống Sài Gòn.

Nhưng rồi những biến động thời cuộc đã khiến cù lao Phố mất đi vị trí "địa đầu”, thay vào đó là sự vùng lên mạnh mẽ của Chợ Lớn và Mỹ Tho. Tuy thế, hôm nay đến cù lao Phố, cảnh xưa còn dó, người cũ chỉ còn lại trong ký ức người dân. Nhưng nó vẫn là một cù lao quan trọng, với lịch sử hình thành, phát triển thật đáng nể.


Yên ả cù lao Mây

4. Cách cù lao Phố không xa, cù lao Rùa (thuộc xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) có diện tích khiêm tốn là 277 hecta. Nó cũng là cồn đất nổi trong lòng sông Đồng Nai khi chia nhánh.

Đặc biệt, trên cù lao có một đụn đất nổi cao chừng 15 mét, nhìn như hình mu rùa, và cái tên cù lao Rùa xuất phát từ đó.

Cù lao Rùa nổi tiếng là một địa điểm khai thác khảo cổ với những di tích được xác định có niên đại hơn 3000 năm. Còn đương nhiên, người dân đến sinh cơ lập nghiệp ổn định tính đến nay cũng 300 năm có lẻ, nằm trong tiến trình mở cõi của dân tộc.

Cù Lao Rùa là di tích từng được nhiều nhà nghiên cứu người Pháp khai quật, công bố từ cuối thế kỉ 19. Họ đã xếp di tích này vào thời đá mới hậu kỳ. Sau này, Viện khoa học xã hội vùng Nam bộ cũng đã nhiều lần điều tra, thám sát (vào những năm 1976, 1998, 1999, 2000, 2001).

Năm 2003, các nhà khoa học đã tiến hành tổ chức khai quật có qui mô gần 400m2, với 5 hố đào tại cù lao Rùa. Cuộc khai quật đã phát hiện nhiều di vật có giá trị cao với 1.254 hiện vật nguyên vẹn  bằng đá và đất nung (rìu các loại, bàn mài các loại, khuôn đúc, đục các loại, vòng tay, bi gốm, dọi se sợi, gốm tròn, cuốc, dao, và đồ tùy táng); thống kê phân loại 85.901 mảnh gốm…Di tích khảo cổ học cù lao Rùa đã góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa thời tiền sử vùng Đông Nam bộ.

Cù lao Phố
Theo thời gian, nếu tính từ năm 1851 được cho là lần khai khẩn lớn nhất, thì lúc đó cù lao có 360 khẩu. Tới nay đã có hơn 2500 người.

Hôm đó, đứng trên núi Bửu Long (Biên Hòa), nhìn về xa, cù lao Rùa trông như một con rùa khổng lồ nổi lên giữa dòng sông Đồng Nai. "Rùa thần” cõng trên mình nhiều loại gỗ quý như: Dầu, Sao, Bời lời, Lòng mức, Giáng hương và  nhiều cây ăn trái: Mít, Xoài, và rất nhiều loại dây leo. Cuộc sống bình yên trên cù lao Rùa, từng tháng từng năm...

NGUYỄN GIA PHONG
BÁO ĐẠI ĐOÀN KẾT