Tuesday, August 23, 2011

Bến Tre: Nắng mới gió mới trên đảo An Ðiền

Rời trung tâm huyện Thạnh Phú (tỉnh Bến Tre) hướng về làng biển An Ðiền trên con đường nhựa thẳng tắp rộng thênh thang, hai bên lộ từng thảm lúa xanh khổng lồ non tơ mượt mà trông rất bắt mắt. Xa xa là những dãy đất giồng (một dãy cát kéo dài hàng chục ki-lô-mét) thâm thẫm xanh đen dày đặc đan kín bởi những rừng dừa. Anh Ðỗ Hoàng Long, quê An Ðiền kể: "Ở đây mỗi xã cách nhau một cánh đồng, và có một giồng đất dài làm ranh giới. Tên gọi thì lạ lắm. Ở ngoài nghe văn vẻ nhưng người dân cứ theo nếp cũ mà gọi, thí dụ như Giồng Ớt là xã An Thuận, Giồng Chanh là xã An Quy, Giồng Chùa là xã Mỹ Hưng, Giồng Bảy là xã An Nhơn. Ngay cái tên huyện Thạnh Phú cũng ít người biết tới mà người dân cứ quen gọi là huyện Giồng Miễu. Chưa hết. Cặp theo sông Cổ Chiên là những làng dân cư sinh sống đều bắt đầu bằng chữ "bến", thí dụ như Bến Trại, Bến Găng, Bến Chỏi, Bến Giông...".



Thời trước, muốn đến đảo An Ðiền chỉ có mỗi cách là đi đò, khổ nỗi là mỗi ngày chỉ có một chuyến mà thôi. Có trễ thì cuốc bộ khoảng ba tiếng, còn ngồi đò thì ngót nghét cũng tiếng rưỡi. Nếu nước xuôi, hơn hai tiếng, còn nước cạn, không vô rạch được, đảo nhỏ này hình như bị xã hội lãng quên với những cái không: không đường, không điện, không nước, không có hộ giàu..., dù chỉ cách trung tâm huyện mười mấy cây số.
Lần này chúng tôi về đảo bằng đường bộ, trên những con lộ phẳng lỳ vừa mới làm xong. Tôi thật sự xúc động và nôn nao một cảm giác rất lạ. Sau hai mươi phút trên con ngựa sắt, chúng tôi đã tiến vào địa phận An Ðiền. Càng đi sâu, gió càng mạnh hơn do chúng tôi đang tiến dần về phía biển. Không khí như có vẻ ngột ngạt và âm ẩm hơi muối. Ðường cũng hẹp hơn, hai bên lộ không còn thấy những mảng xanh của lúa, của dừa mà thay vào đó và những vuông (đất ruộng được nạo vét sâu để nuôi tôm) tôm rất rộng, trên đó là những chòi canh đẹp mắt và xây dựng khá kiên cố. Dưới mặt vuông là hàng loạt máy bơm nước công suất lớn và hệ thống trục nước theo mô hình nuôi tôm công nghiệp.

Tranh thủ ghé vào chòi canh của anh Nguyễn Văn Chấn, tôi thật sự bất ngờ về các tiện nghi sinh hoạt. Trong chòi, có đủ cả ti-vi, đầu đĩa ka-ra-ô-kê, tủ lạnh, bếp ga, điện thoại di động của ngành điện lực. Anh Chấn hồ hởi khoe: "Nói thiệt nghe, giờ cho tui lên tỉnh ở tui cũng hổng đi. Ở đây vừa khỏe, có tiền lại đủ tiện nghi, ai có gì là tui có nấy. Nè, mà đây chưa "đã" bằng trên nhà tui đâu, có...". Nói đến đó anh bỗng nín thinh, có lẽ vì sợ mình "quá đà", và khi bắt gặp cái nhìn rất láu của anh Long.

Xe chúng tôi vượt lên cầu Cả Cát, cây cầu theo mô hình dây văng duy nhất và lớn nhất huyện, hình thành cũng đã 5 năm. Cầu rất đẹp và hùng vĩ như một điểm xuyết ngạo nghễ giữa đất trời quê biển đầy nắng gió này, nối liền đảo nhỏ An Ðiền với đất liền của huyện, chấm dứt sự chia cách đầy khó khăn của cư dân ở đây. Trước kia có lần về công tác ở vùng quê biển này, một nhà báo nghe đâu ở miệt Cần Thơ, bắt gặp hình ảnh lũ học trò nhỏ qua sông trên những chiếc "trẹt" (một loại phương tiện thủy nhỏ, có hình dáng công dụng như chiếc phà) mong manh tử thần cứ chao qua chao lại, cố sức chống chọi với những cơn sóng to ầm ập vỗ vào thân trẹt trong cơn mưa lũ tràn ngập. Qua được bên này sông, đám học trò ướt nhem, mặt xanh như tàu lá. Nhà báo ấy đã có một bài viết đầy xúc động đăng trên các báo, thế là một cây cầu ước mơ bao đời đã được nhanh chóng thi công.

Dừng giây lát giữa cầu để ngắm nhìn cảnh vật chung quanh ở độ cao hơn hai mươi mét, anh Long tần ngần cho biết: "Có cầu mới rất vui, nhưng chưa trọn. Nhiều tai nạn đã xảy ra tại dốc cầu này do độ cong rất lớn. Không hiểu mấy ông thiết kế nghĩ sao nữa, đất thì rộng thênh thang, mắc mớ gì mà lại bẻ cong cây cầu vừa lãng nhách, vừa chết người như vậy. Kêu cứu ở đâu bây giờ? Thôi đành chịu...".
Tiếp chúng tôi tại ngôi trường mẫu giáo xã mới toanh, Hiệu trưởng Nguyễn Thanh Loan vui vẻ kể: "Trường này được xây theo chuẩn cấp quốc gia, bà con phấn khởi quá, nhất là phụ huynh có con nhỏ. Ở quê có được trường lớp khang trang như vậy, mơ cũng không dễ thấy...".

Mà đâu chỉ có trường mẫu giáo, trường tiểu học vừa xây xong cũng đạt tiêu chí này. Rồi trường trung học cơ sở cũng đang gấp rút hoàn thành để đạt chuẩn quốc gia. Trạm y tế cũng đạt mười chuẩn quốc gia về y tế, có bác sĩ phụ trách. Nhà nào cũng sử dụng điện lưới quốc gia. Xe hon-đa, điện thoại di động thì khỏi kể xiết. Ðiều rất lạ ở đảo hôm nay là xu thế xài xe hon-đa toàn loại đắt tiền như một phong trào "bằng chị bằng em" tại địa phương. Rất hiếm khi bắt gặp một chiếc xe Trung Quốc ở đây mà chỉ thấy các loại xe Nhật chính hãng. Còn một điều lạ khác nữa là đa số các hộ dân đều cất nhà lầu, nhà kiên cố rất "hoành tráng" nhưng đóng cửa liên tục, chỉ có các dịp lễ, Tết, hữu sự trong gia đình mới mở cửa đón khách. Cư dân ở đây đều tập trung sinh hoạt ở các "chòi canh" tôm với đầy đủ tiện nghi. Chỉ thiếu một điều: Họ quen ngủ nền gạch (có lẽ cho mát), nên hầu hết đều không dùng giường như ở thành thị.

Ðêm về trên đảo thật vui. Hàng quán mọc lên khắp nơi, tiếng nhạc xập xình lan tỏa. Anh Bé Sáu, một cư dân sống ở đây hơn mười lăm năm chở tôi tham quan đảo ban đêm trên vành đai chiến lược quốc phòng của tỉnh Bến Tre. Anh nói, con đường độc đạo này là chiến hào quan trọng của xã nói riêng, của huyện và của cả tỉnh nói chung. Bên trong là quần thể dân cư, bên ngoài là sông Hàm Luông đổ dài ra cửa lớn song song với cửa biển Cổ Chiên. Gió từ biển thổi vào đất liền rào rào không bao giờ dứt đợt. Trên những chòi canh tôm đèn đuốc sáng trưng. Sẵn chuyện, anh Bé Sáu kể: "Dân ở đây giờ khá hẳn lên, nhưng tằn tiện làm ăn dữ lắm. Ðốt đuốc hết xã kiếm một quán "bậy bạ" cũng không có đâu, "đã" nhất là chuyện người dân bỏ đại xe ngoài đường suốt đêm cũng không mất mát gì hết, bọn trộm vô xã là bà con biết liền...".

Chúng tôi quay về chòi tôm của anh Long để theo anh "mục sở thị" vuông tôm ban đêm. Nước chảy rào rào qua các miệng bung. Ðứng trên chiếc xuồng nhỏ, anh Long vung chiếc chày bung tròn thật đẹp mắt xuống mặt nước. Chỉ sau vài phút, kéo lên trong chày hàng chục chú tôm càng xanh to khỏe đang vùng vẫy. Hướng xuồng về phía bờ vuông anh kéo những chiếc vó lên thật nhẹ nhàng và gỡ thật điệu nghệ mấy con cua biển mắc lưới bỏ vào thùng. Anh nói thêm, đời sống mấy trăm hộ dân trong xã đảo này bây giờ đổi mới nhiều lắm. Lúa đủ ăn quanh năm, tôm cua cá khỏi phải mua hàng bữa. Trước đây nuôi tôm thẻ không lời nên dân An Ðiền chuyển sang nuôi tôm càng xanh, mấy năm nay trúng "đậm", vậy là thi nhau sắm sửa đủ thứ trên đời. Ở vùng nước mặn quanh năm này cây lúa là thứ yếu, cây dừa giờ bắt đầu lão hóa, hơn 90% dân chuyển sang mô hình sống với con tôm, con cua biển. Ðất nông nghiệp chuyển sang nuôi tôm, nên giá đất nuôi tôm cứ tăng dần. Trước đây đất nước mặn có vài "chỉ" một công, giờ thì đụng tới là vài ba "cây" không bớt xu nào, vậy mà không đủ đất để bán cho mấy "đại gia" trên huyện, trên tỉnh. Ngay cả người có đất cũng không ai muốn bán nữa, có lẽ họ đã thấy nguồn lợi lâu dài đang tiềm ẩn trong mảnh đất quê mình. Ai có chút đất thì theo nhau cạp lên để nuôi tôm, ai không đất thì kinh doanh mua bán tôm cua đi khắp mọi nơi trong và ngoài tỉnh. Nhiều nông dân ở đây còn áp dụng mô hình nuôi bò thịt, xem ra rất phát triển với nhiều lợi thế. Mùa mưa cỏ lồng ống mọc xum xuê theo các bờ đê vuông tôm, tha hồ mà cắt. Mùa nắng thì chỉ việc cho bò ăn rơm là xong, tiện lợi, nhẹ công mà lời cũng không ít. Hiện có khoảng 20% hộ dân áp dụng mô hình nuôi bò này.

Chú Nguyễn Văn My, năm nay tuổi đã gần tám mươi, và cũng ngần ấy năm sống ở đất này kể: "Hồi chiến tranh chống Mỹ - Ngụy ác liệt lắm. Ðảo nhỏ vậy mà tụi nó hổng dám nhào vô chiếm đóng, vô đứa nào là khiêng thây đứa đó. Du kích và dân ở đây chiến đấu có tiếng kiên cường, vậy mà sau giải phóng nghèo cứ mãi nghèo. Giờ thì ngon lắm rồi chú ơi!...".

Trăng đêm trên An Ðiền thật trong. Dĩa mồi nóng hổi gồm cua, tôm mới bắt mang ra, chai rượu đế Phú Lễ (huyện Ba Tri) vốn nổi tiếng khắp miền được rót ra. Nhấp một ly, anh Chấn đề nghị lấy cây đờn ra làm vài câu vọng cổ cho nó bắt trớn, rồi ca liền mấy bản ngắn "Văn Thiên Tường", "Xuân Tình", "Nam Xuân"..., giọng ca cứ chập chờn lay lắt trong đêm khuya lồng lộng. Thỉnh thoảng anh Long lại đi lấy cỏ cho bò ăn khuya với nụ cười rạng rỡ, tự tin. Trong nụ cười và đôi mắt ấy ánh lên bao niềm tin ở tương lai. Hồi chiều anh mới khoe sau hai mươi năm cật lực làm ăn, hiện nay nhà có ba mươi công đất nuôi tôm, tám con bò thịt, gà vịt thì vài trăm con. Hai vợ chồng hiện đang là giáo viên của xã, được hưởng ưu đãi vùng sâu, nên trừ đi chi phí đầu tư chăn nuôi, chi xài trong gia đình năm miệng ăn, mỗi năm cũng có dư bảy tám mươi triệu đồng là chuyện thường. Có năm trúng tôm thì dư trên một trăm triệu đồng, năm nay chắc là thắng lớn.

Ðêm ngủ nền gạch Tàu lần đầu tiên trong tiếng ếch nhái kêu ra rả suốt đêm xen lẫn với tiếng gà gáy khuya, tôi không tài nào chợp mắt. Bên tôi, anh Long đã ngủ say sưa, tiếng ngáy phò phò của người giáo viên lực điền cứ lan xa trong đêm vắng lặng. Xa xa ánh đèn từ cây cầu dây văng cứ sáng hừng hực soi mình kiêu hãnh trên dòng sông rộng Cả Cát. Nước lớn trắng đầy chảy cuồn cuộn, cuồn cuộn như một sự đổi thay diệu kỳ trên vùng quê đảo hôm nay.

KÝ CỦA SONG ANH
Báo Nhân Dân