Wednesday, September 9, 2009

Hà Nội: Nét văn hóa làng cổ Cự Ðà

Cách trung tâm Thủ đô khoảng 15 km về phía tây nam, làng Cự Ðà nằm bên bờ của con sông Nhuệ thơ mộng, mang đậm dấu ấn của một vùng thôn quê Việt Nam với những cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi, những bến nước, bờ ao, giếng làng. Vẫn còn đó những bức tường rêu phong mang trên mình vết tích của thời gian, cổ kính, trầm mặc và yên bình. Người Cự Ðà vẫn giữ được nếp sống truyền thống, nghĩa tình làng xóm đã duy trì và gìn giữ qua nhiều thế hệ. Chính vì thế, khách lạ tới Cự Ðà sẽ chẳng gặp khó khăn gì khi hỏi thăm một gia đình nào đó. Ðó chính là nét văn hóa đáng trân trọng của người dân nơi đây.

Làng cổ Cự Đà, một điểm du lịch hấp dẫn của Hà Nội.
Những năm 20-30 của thế kỷ trước, nhờ vị trí "nhất cận thị, nhị cận giang", Cự Ðà đã là nơi thông thương buôn bán sầm uất với những hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa diễn ra suốt ngày đêm. Chính điều kiện địa lý thuận lợi nên Cự Ðà phát triển nhanh chóng, kinh tế của người dân trong làng được nâng cao đáng kể so với những vùng quê khác thời đó. Người Cự Ðà tỏa đi khắp nơi lập nghiệp. Và rất nhiều người trong số đó đã xây dựng cho mình một sự nghiệp đáng kể. Ðể nhớ về nơi "chôn nhau cắt rốn", họ đều lấy tên đầu là Cự như các doanh nhân nổi tiếng thời đó; Cự Doanh, Cự Chân, Cự Phát. Những người Cự Ðà "ăn nên làm ra" trở về quê hương, đã du nhập nhiều yếu tố văn hóa đô thị về làng quê.  Những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc "tây" giao hòa kiến trúc cổ truyền cũng mọc lên. Ðó là nhà Hội đồng được xây theo kiến trúc Pháp để người dân hội họp, quyết định những vấn đề chung của làng. Không chỉ có vậy, từng căn nhà đều được đánh số như ở đô thị lớn. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Cự Ðà là một trong số rất hiếm những ngôi làng Việt đánh số nhà. Ðiều này đã tạo cho ngôi làng này những nét độc đáo rất riêng mà không phải bất kỳ ngôi làng Bắc Bộ nào cũng có được.

Những dấu ấn văn hóa là minh chứng cho một thời phát triển cực thịnh vẫn được dân làng gìn giữ gần như nguyên vẹn. Về Cự Ðà hôm nay, du khách có thể thấy được những dấu tích của một giai đoạn đáng ghi nhớ đó. Nổi bật nhất là những ngôi biệt thự kiểu Pháp có tới hơn 50 chiếc. Tuy đã bị mai một phần nào bởi thời gian và sự biến thiên của lịch sử, nhưng chúng vẫn còn nguyên những nét kiến trúc độc đáo, đặc sắc và rất riêng của nghệ thuật Pháp với hai tầng nhà, ban-công, cửa vòm, gạch hoa lát cột, mảnh sứ đập ra ghép lại trang trí mặt tiền. Theo ông Vũ Văn Bằng, Trưởng ban văn hóa xã, đó là nhà của những người con xa xứ về xây dựng ở đây trước kia như nhà cụ Cự Doanh, đầu xóm Ðồng Nhân Cát, nhà cụ Hai Chiếu, nhà số 15 ở xóm Chùa 1, nhà số 191 ở xóm Hiếu Ðễ... Những viên gạch lát nền phần lớn là được sản xuất ở Pháp vào những năm 1910-1920 và được nhập vào Việt Nam. Những viên gạch loại này không những được lát nền mà còn dùng để trang trí trên hàng cột ngoài hiên nhà. Ðiều đáng nói ở đây chính là kiến trúc và hoa văn của những ngôi nhà này vẫn rất rõ, thể hiện đậm sự giao lưu kiến trúc đông - tây trong những năm đầu thế kỷ 20.

KHÔNG chỉ in đậm phong cách kiến trúc Âu châu, Cự Ðà còn có những dấu vết khẳng định giá trị truyền thống của một làng quê ven sông ở đồng bằng Bắc Bộ. Ðó là những ngôi nhà Việt cổ và từ đường được xây dựng cách đây đã một thế kỷ. Những ngôi nhà làm bằng gỗ lim với những nét chạm trổ tinh tế nay vẫn vững chãi, hiên ngang cùng thời gian. Trong số đó có những ngôi nhà là các di tích rất quý hiếm. Nổi bật nhất phải kể tới nhà ông Trịnh Thế Sủng được xây dựng năm 1874, trên câu đầu còn ghi niên đại "Tự Ðức Giáp Tuất" thể hiện rõ rệt lối kiến trúc đời Nguyễn với những nét khá độc đáo như làm hoàn toàn bằng gỗ, không có tường, chỉ có những cánh cửa với phần chạm trổ tinh xảo của những người thợ đầy tài năng, mùa đông đóng lại, mùa hè dựng lên cho mát. Nét văn hóa của một làng quê Việt còn thể hiện ở những công trình kiến trúc khác như đình chùa miếu mạo. Miếu Cự Ðà là một trong hai di tích được xếp hạng quốc gia của làng. Ở một vị trí rất trang trọng trong khuôn viên của miếu là đàn Xã Tắc được lập nên để cúng tế, cầu mưa thuận gió hòa, được đánh giá thuộc loại đẹp nhất nước còn lưu giữ được tới ngày nay. Ðàn tế này được xác định có niên đại từ năm 1921. Ðược làm hoàn toàn bằng đá xanh, đàn tế có dáng tựa một cái ngai thờ, mặt trước, sau và hai bên đều được chạm khắc hoa văn tinh tế và mang đậm giá trị tâm linh. Theo nhận định của những nhà nghiên cứu, đàn Xã Tắc làm bằng đá rất hiếm, hiện chưa tìm được ở đâu ngoài làng Cự Ðà. Ðàn tế chạm rồng và biểu tượng các con vật thiêng trong bộ "Tứ linh" như ở nơi đây lại càng hiếm hơn. Rộng hơn ý nghĩa tế trời đất và thần Nông, đàn Xã Tắc còn bao hàm trong nó những nét độc đáo của một triều đại, một giai đoạn lịch sử trong quá khứ. Nhà thọ từ cũng là một công trình kiến trúc cổ khá độc đáo, nơi làm lễ phong thọ hằng năm cho những người có tuổi thọ hơn 70. Thêm vào đó là ngôi đình Vật mà cái tên cũng cho thấy ý nghĩa bởi nơi đây từng diễn ra các lễ hội đấu vật lớn nhất trong vùng dịp hội xuân đầu năm.

 Những chứng tích độc đáo về một thời phát triển cực thịnh của một làng cổ ven sông đã và đang giúp Cự Ðà trở thành một điểm đến tham quan, du lịch của các nhà nghiên cứu, du khách trong nước và ngoài nước.

Lê Thị Hồng
Báo Nhân Dân